1. SỰ TĂNG TRƯỞNG THỂ CHẤT CỦA TRẺ :
Tăng trưởng chiều cao :
1 tuổi : 74 - 76 cm. 2 tuổi : 85 – 86 cm. 3 tuổi : 94 - 95 cm. 4 tuổi : 102 – 103 cm. 5 tuổi : 108 - 110 cm. 6 tuổi : 115 – 116 cm.
Chiều cao của trẻ tăng nhanh nhất trong 3 năm đầu đời, trẻ sanh ra thường cao 50 cm, năm đầu trẻ tăng 25cm, năm thứ 2 và năm thứ 3 trẻ tăng mỗi năm khoảng 10cm. Sau 3 tuổi chiều cao tăng 6 - 8 cm mỗi năm.
Chiều cao ước đoán đạt được sau này của trẻ bằng 2 lần chiều cao trẻ lúc 2 tuổi. Ví dụ : Lúc 2 tuổi bé cao 85 cm, chiều cao ước đoán đạt được lúc trưởng thành sẽ là 85x2cm = 170 cm. Những trẻ suy dinh dưỡng sớm và kéo dài không hồi phục trước 3 tuổi sẽ khó đạt được tầm vóc tối ưu sau này.
Tăng cân:
1 tuổi : Cân nặng lúc sinh x 3 ( 9,5 – 10 kg) 2 tuổi : Cân nặng lúc sinh x 4 (12 – 12,7 kg) Sau 2 tuổi trẻ tăng trung bình 2 kg mỗi năm.
Trẻ 1 tuổi : 9,5 – 10,2 kg Trẻ 2 tuổi : 12 – 12,6 kg Trẻ 3 tuổi : 14 - 14,6 kg Trẻ 4 tuổi : 16 – 16,7 kg Trẻ 5 tuổi : 17,7 – 18,7 kg Trẻ 6 tuổi : 19,5 – 20,7 kg
- Thông thường sự tăng cân nặng thường đi đôi với tăng chiều cao, vì vậy nếu vì một lý do nào đó làm trẻ chậm tăng cân, thì chiều cao cũng chậm tăng theo. Nguyên nhân làm trẻ chậm tăng cân thường là do bệnh dẫn đến biếng ăn, hoặc do sử dụng nhiều kháng sinh trong điều trị bệnh nhiễm trùng , cũng có thể do chế độ ăn thiếu chất dinh dưỡng, không phù hợp... - Trong năm đầu, nên cân trẻ đều đặn hàng tháng. Nếu trẻ đứng cân 1 tháng là đáng báo động cần tìm nguyên nhân để giải quyết. - Qua 2 tuổi trẻ tăng cân chậm hơn trước và có thể không đều hàng tháng, có tháng trẻ đứng cân, có tháng tăng nhanh hơn. Nhưng đứng hoặc sụt cân trong 2 tháng liên tiếp là dấu hiệu báo động. Vì vậy cần cân trẻ mỗi 2 tháng. - Theo dõi cân nặng trẻ theo biểu đồ tăng trưởng giúp phát hiện sớm tình trạng suy dinh dưỡng. Thông thường trẻ lên cân chậm hoặc đứng cân 4 - 6 tháng sau mới có biểu hiện lâm sàng của suy dinh dưỡng. Ngay khi còn ở kênh A, nếu đường biểu diễn cân nặng của bé có xu hướng đi xuống, tách xa dần đường cong chuẩn điều đó có nghĩa là bé đã bị thiếu dinh dưỡng cần tìm ra nguyên nhân để giúp bé tiếp tục phát triển tốt, ngược lại đường phát triển của bé đi dốc ngược lên, nhanh hơn đường cong chuẩn là bé có nguy cơ thừa cân, béo phì.
NHU CẦU DINH DƯỠNG TUỔI MẦM NON :
- Bé trên 2 tuổi đã đủ các răng hàm và đã ăn được các thức ăn như người lớn. Tuy nhiên, sức nhai của trẻ còn kém, hệ tiêu hóa chưa hoàn chỉnh như người lớn nên ngoài 3 bữa chính bé cần được cho ăn thêm 2 - 3 bữa phụ, xen kẽ giữa các bữa ăn chính, với các thức ăn có sẵn trong gia đình như: trái chuối, củ khoai, trái bắp, bánh, chè, ly, sữa ... Điều này đặc biệt cần thiết đối với các bé suy dinh dưỡng, bé "kén ăn", bé ăn không được nhiều. Tuy nhiên, cần tránh cho bé ăn vặt trong vòng 1 – 2 giờ trước bữa ăn chính vì dễ làm cho bé ngang bụng và ăn kém đi trong các bữa chính. - Số lượng thực phẩm các loại trung bình trong ngày cho bé như sau : · Chất bột đường : 3 - 4 chén cháo đặc, cơm /ngày · Chất đạm (thịt, cá, tôm, cua, đậu hũ, trứng...) : trung bình 120 g – 150 g / ngày · Chất béo (dầu, mỡ, bơ...) : Trung bình 30g / ngày · Rau trái : 300g rau củ và trái cây - Các vitamin và khoáng chất cần thiết: ( Vitamin A : 1000 UI /ngày ( Vitamin D : 400 UI /ngày ( Canxi : 500 mg /ngày ( Sắt : 6 – 7 mg / ngày ( Kẽm : 10 mg / ngày Mỗi ngày nên cho bé uống thêm 1-2 ly sữa để cung cấp đủ nhu cầu canxi cho bé. Ở tuổi này, loại sữa tốt nhất đối với bé là sữa mà bé thích uống, có thể là sữa bột, sữa tươi, yaourt hay pho-mát. Không nên dùng sữa đặc có đường nuôi trẻ vì không đủ chất dinh dưỡng. Những bé khó uống sữa cần chú ý cho ăn thêm những thức ăn giàu canxi như cá, tôm, tép, cua, đậu mè, đậu hũ ... - Để phòng ngừa thiếu máu, thiếu sắt cho bé, giúp bé hồng hào, cần chú ý cho bé ăn những thức ăn giàu sắt, "bổ máu" như huyết, gan, thịt, cá, tôm, tép, các loại đậu đỗvà rau lá xanh. Vitamin C trong rau quả tươi giúp bé hấp thu tốt chất sắt có trong thức ăn . Vì vậy, cần cho bé ăn thêm trái cây tráng miệng sau bữa ăn chính, cũng giúp bé làm quen được với tất cả các loại thức ăn của gia đình. - Bữa ăn sáng là bữa ăn quan trọng nhất trong ngày và cung cấp năng lượng cho bé "học giỏi" ở trường Mẫu giáo.
CÁC VẤN ĐỀ DINH DƯỠNG THƯỜNG GẶP TRONG ĐỘ TUỔI MẦM NON VÀ HƯỚNG KHẮC PHỤC : 1. SUY DINH DƯỠNG :
1.1. Định nghĩa : Là tình trạng cơ thể trẻ thiếu năng lượng, chất đạm và đa chất dinh dưỡng làm ảnh hưởng đến sự phát triển vận động và tâm thần của trẻ. 1.2. Nguyên nhân : Do ăn vào ít hơn tiêu hao, do thiếu kiến thức của người nuôi trẻ, do bệnh tật ( viêm hô hấp, tiêu chảy...) 1.3. Nguyên tắc xử trí :
Tăng năng lượng ăn vào :
- Cho trẻ ăn làm nhiều bữa nhỏ - Thức ăn phù hợp với độ tuổi và khẩu vị trẻ - Tôn trọng tâm lý trẻ trong ăn uống, giúp trẻ mau chóng hoà nhập vào môi trường tập thể. - Cho trẻ ăn nhiều loại thực phẩm trong cùng một bữa ăn, cho trẻ uống sữa sau các bữa ăn - Thêm dầu mỡ vào thức ăn - Sử dụng thêm thức ăn cao năng lượng theo tư vấn của bác sĩ chuyên khoa
Giảm năng lượng tiêu hao :
- Tránh để trẻ bị bệnh : chủng ngừa đủ, giữ ấm cơ thể, giữ vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường tốt, vệ sinh an toàn thực phẩm, điều trị triệt để bệnh khi bị mắc phải, tránh cho trẻ tiếp xúc với các môi trường công cộng có nhiều nguy cơ lây nhiễm ... - Xổ giun định kỳ
2. BÉO PHÌ : Đang có khuynh hướng ngày càng tăng 2.1. Định nghĩa : Khi tích trữ mỡ trong cơ thể vượt quá tỉ lệ thông thường có thể gây ảnh hưởng đến sức khoẻ. 2.2. Nguyên nhân : Do ăn vào nhiều hơn tiêu hao 2.3. Nguyên tắc xử trí :
Giảm năng lượng ăn vào : · Cho trẻ ăn vừa đủ theo nhu cầu, không ép trẻ ăn nếu trẻ không thích ăn. · Giảm chất bột, đường: nhất là dạng bột có năng lượng cao như bánh chưng, xôi, mì xào, mì gói..., các thức ăn ngọt như chè, bánh kẹo, nước ngọt. · Giảm chất béo: thay đổi cách chế biến thức ăn, thường xuyên ăn món luộc, hấp thay vì chiên, xào. Tránh các thức ăn giàu chất béo như thịt mỡ, thức ăn chiên quay, da, lòng động vật, các loại hạt có dầu như đậu phộng, hạt điều, thức ăn nhanh. · Chọn lựa thức ăn ít năng lượng cho trẻ: tăng cường rau xanh, trái cây ít ngọt ... · Sữa : Không nên loại sữa khỏi khẩu phần nhưng nên chọn loại sữa phù hợp và cho uống với số lượng vừa phải theo nhu cầu (400-500ml/ngày). Nên dùng sữa không đường, không béo ( chỉ sử dụng cho trẻ trên 2 tuổi, an toàn nhất là cho trẻ trên 5 tuổi) · Chú trọng bữa ăn sáng, ăn trưa, tránh ăn nhiều vào chiều tối, không nên cho ăn sau 7 giờ tối, bữa ăn cuối cùng nên cách xa giờ đi ngủ.
Tăng năng lượng tiêu hao : · Tạo điều kiện và khuyến khích trẻ tham gia các trò chơi vận động như học một môn thể thao, đi bộ, đi dạo hàng ngày, đi chơi dã ngoại cuối tuần, chạy nhảy, bơi lội... · Tập cho trẻ thói quen năng động trong cuộc sống hàng ngày : giúp mẹ và cô trong công việc nhàhay việc ở lơp, sắp xếp đồ đạc, lên xuống cầu thang, tránh nằm ngồi một chỗ xem TV, chơi game, đọc sách ...
3. BIẾNG ĂN : Biếng ăn ở trẻ là một tình trạng khá phổ biến. Đặc biệt ở trẻ từ 1 - 3 tuổi, tỷ lệ biếng ăn có thể đến 30 - 40% do nhiều nguyên nhân đa dạng khác nhau như :
3.1. Biếng ăn do bệnh lý: đa số khi mắc bệnh đều làm cho trẻ biếng ăn, thậm chí trước khi bệnh 1 – 2 ngày trẻ đã uể oải ăn ít đi. Việc đầu tiên phải điều trị bệnh đang mắc, trong giai đoạn bệnh nên cho trẻ ăn ít, nhiều bữa, thức ăn mềm lỏng dễ tiêu.
3.2. Biếng ăn do sai lầm trong chế biến thức ăn và thời gian chuyển tiếp chế độ ăn - Thức ăn đơn điệu gây cảm giác chán ăn
3.3. Biếng ăn do thuốc: - Dùng kháng sinh kéo dài gây loạn khuẩn đường ruột, giảm quá trình lên men thức ăn. - Không nên dùng Ciproheptadine vì tình trạng biếng ăn sẽ tăng lên sau khi ngưng thuốc
3.4. Biếng ăn do tâm lý (theo độ tuổi từ nhỏ đến lớn)
- Đây là nguyên nhân phổ biến nhất do cha mẹ không hiểu tâm sinh lý trẻ, do cuộc sống quá vất vả, căng thẳng. - Bữa ăn của trẻ không được thoải mái, thích thú để thỏa mãn tính tò mò, thích khám phá thế giới của trẻ. Tuổi này trẻ ăn uống với tất cả các giác quan của mình như vị giác khi nếm đồ ăn; xúc giác được cầm, bốc, xúc thức ăn; khứu giác ngửi mùi đồ ăn hoặc thị giác với các ly chén dĩa ngộ nghĩnh, màu sắc của thức ăn. Ngoài ra, trẻ cần được ăn với một không khí thoải mái có ánh mắt nụ cười của người thân, nhưng bữa ăn nhiều khi trở thành "cuộc chiến", trẻ bị ép ngồi gò bó, bị la mắng, bị nhéo, bị bóp mũi...nếu không há miệng, không chịu nuốt ... - Biếng ăn do cha mẹ cho bé ăn đồ xay nhuyễn kéo dài, bé ngán nhưng lại không biết nhai để có thể ăn cơm. - Biếng ăn "của cha mẹ": cha mẹ thấy trẻ ăn ít hơn trẻ khác hoặc không mập như trẻ khác nên ép buộc, bắt trẻ phải ăn hết suất quy định, không tôn trọng cơ chế tự điều chỉnh của trẻ, dần dần làm trẻ sợ ăn. - Một số bậc cha mẹ còn cho thuốc vào thức ăn làm bé phải luôn cảnh giác, hoặc dùng thức ăn để dỗ dành khen thưởng trẻ tạo cho bé có khuynh hướng dùng chuyện ăn uống làm "phương tiện" "mặc cả" lại cha mẹ khi có điều gì không vừa ý ... tất cả những vấn đề vừa nêu dẫn đến tình trạng trẻ dần dần sợ hãi bữa ăn.
( Tóm lại: Khắc phục tình trạng biếng ăn ở trẻ không đơn giản, nhất là tình trạng này xảy ra từ nhiều tháng, năm trước đó. Có thể lúc đầu do nguyên nhân tâm lý hoặc cách cho ăn đơn điệu dẫn đến biếng ăn và suy dinh dưỡng. Trẻ ăn ít thiếu các chất dinh dưỡng như đạm, Lysin, kẽm ... Thiếu các chất này càng làm trẻ biếng ăn và suy dinh dưỡng nặng hơn và trẻ suy dinh dưỡng lại hay bị bệnh và lại biếng ăn hơn. Biếng ăn trở thành hậu quả của nhiều nguyên nhân cần được điều trị toàn diện. Điều quyết định sự thành công là sự kiên trì, hợp tác và hiểu biết của các bậc cha mẹ và người nuôi trẻ để giúp trẻ có thói quen ăn uống tốt.
4. CHẬM TĂNG CAO:
Qua nghiên cứu cho thấy chiều cao chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố : di truyền, dinh dưỡng, vận động, giấc ngủ, môi trường, tình hình bệnh tật ...Như vậy, muốn trẻ đạt được chiều cao tối ưu, cha mẹ cần thực hiện các việc sau: - Aên đủ 3 bữa chính (với đầy đủ 4 nhóm thực phẩm và ăn đa dạng thực phẩm để trẻ nhận đủ các chất sắt, kẽm, canxi, vitamin A...) - Lượng sữa duy trì mỗi ngày là 500 ml. - Sử dụng muối Iốt để nêm thức ăn cho trẻ. - Cho trẻ tiếp xúc với ánh nắng 15 – 30 phút mỗi ngày để giúp da tạo đủ vitamin D cho cơ thể. - Cho trẻ vận động khoảng 30 phút mỗi ngày. - Cho trẻ ngủ đủ giấc.
BS Phan Thị Hiền Thu - Trung Tâm Dinh Dưỡng Tp HCM |