LƯỢC VỀ VIỆC CẤY GHÉP XƯƠNG TRONG PHẪU THUẬT IMPLANT

cay-ghep-rangPhẫu thuật cấy ghép hiện đại thông qua các công việc của Giáo sư Per_Ingvar Branemark đã thực sự làm một cuộc các mạng trong y khoa nói chung và nha khoa nói riêng.

Sự tiến bộ của phẫu thuật cấy Implant trong 30 năm qua đã đẩy xa các giới hạn về khả năng của chúng ta. Những gì không thể làm trước đây thì nay đã có thể thực hiện một cách dễ dàng. Tất cả những tiến bộ đó trên nguyên tắc phải đem lại lợi ích cho bệnh nhân của chúng ta.
Như chúng ta đã biết, răng trong miệng bị mất đi thường là do nhiễm trùng ( bệnh sâu răng và nha chu), chấn thương, thậm chí do một số công việc điều trị gây ra. Từ đó dẫn đến mất ít hay nhiều mô nâng đỡ và xương.
Để cấy ghép trong điều kiện bất lợi, khi mất xương ít, chúng ta có thể dùng các kỹ thuật đơn giản để giúp xương hoặc tái tạo xương với màng hướng dẫn.
Trong trường hợp mất xương nhiều, việc ghép xương là cần thiết tuyệt đối. Chúng ta có thể dùng xương của chính bệnh nhân ( ghép xương tự thân/ Autograft), hay xương của người khác (ghép đồng loạị/ Allograft), hoặc xương của loài khác (ghép dị loại/ Xenograft), hay xương nhân tạo (Alloplastic). Dựa trên kinh nghiệm lâm sàng, chúng tôi thường sử dụng:
a) Ghép xương tự thân: (Autograft)
Vị trí chúng tôi thường lấy xương là vùng cằm,  vùng góc hàm. Ưu điểm của phương pháp này là xương còn sống và có được các đặc tính: tạo xương, kích tạo xương và kích dẫn xương. Nguy cơ truyền bệnh tuyệt đối không có, phẫu thuật có thể gây sưng trong vòng 5-6 ngày, không đau và hầu như không có biến chứng.
b) Vật liệu Alloplastic:

  • Chúng tôi thường sử dụng chất ß_ TCP (ßeta_ Tricalcium phosphate). Đây là một chất có tính kích dẫn xương, với tính chất cơ học tốt và rất an toàn.

Đây là một dạng xương đồng loại đã được kháng khuẩn và kháng vi rút, rất an toàn (dựa vào kinh nghiệm 30 năm lâm sàng và trên 1.500.000 bệnh nhân). Vật liệu mới  này trong ngành Nha Khoa cung cấp cho chúng ta một thay thế đáng chú ý tới.
Ưu điểm của nó là có thể bù đắp lại lượng xương đã mất với khối lượng lớn, đồng thời tránh cho bệnh nhân phải chịu một nơi phẫu thuật thứ 2 so với phương pháp ghép xương tự thân.
Dựa trên các nguyên tắc và vật liệu kể trên, có nhiều kỹ thuật khác nhau để làm tăng lượng xương bị mất, chẳng hạn như:
Nâng xoang ( Sinus lift)Mở rộng xương theo chiều dọc ( kỹ thuật Summers)Mở rộng xương theo chiều dày ( kỹ thuật Hilt Tatum)Ghép xương onlay
Bên cạnh đó, cũng có những giải pháp để tránh việc ghép xương. Đó là sử dụng những cấy ghép dài (tối thiểu 13 mm, trong những vùng có xương) và các kỹ thuật của tiến sĩ Paulo Malo (kỹ thuật All-on-4 và kỹ thuật All-on-6).
Tóm lại, sự tiến bộ của ngành phẫu thuật cấy ghép hiện đại đã cung cấp cho chúng ta một phạm vi điều trị rất rộng. Mục đích chính là đơn giản hóa thủ tục, giảm bớt thời gian điều trị, nhằm đem lại hiệu quả cao nhất với chi phí thấp nhất. Điều này sẽ giúp phẫu thuật Implant trở nên dễ tiếp cận hơn và giúp đỡ cho nhiều bệnh nhân hơn
BS.TS. Thái Tường Tâm